Giới thiệu hệ thống Giáo dục nghề nghiệp

MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN
VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VIỆT NAM

Đào tạo nghề (giáo dục nghề nghiệp – GDNN) Việt Nam có lịch sử phát triển khá lâu đời, gắn liền với sự phát triển của các làng nghề truyền thống, của sản xuất nông nghiệp. Hầu như ở bất cứ làng quê nào của đất nước cũng có những dấu ấn của sự học nghề và dạy nghề. Trải qua nhiều sự thay đổi, nhưng GDNN đã khẳng định được vai trò của mình trong việc đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật tr c tiếp cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Hệ thống GDNN chính thức được luật hóa từ Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Dạy nghề năm 2006, tuy nhiên, hệ thống lúc đó còn chưa thống nhất, phân mảnh ở cả các trình độ đào tạo và phạm vi quản lý nhà nước.

Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Luật Giáo dục nghề nghiệp đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2015. Có thể nói, đây là một đạo luật đã thể chế hóa mạnh mẽ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung, GDNN nói riêng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI, giải quyết nhiều bất cập trong thực tiễn, tạo nên một diện mạo mới của hệ thống GDNN ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế.

Luật Giáo dục nghề nghiệp có nhiều đổi mới, từ hệ thống GDNN đến tên gọi các cơ sở GDNN; tổ chức quản lý, đào tạo; tuyển sinh; thời gian đào tạo, chương trình đào tạo; kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp; đổi mới chính sách với người học, với nhà giáo, với cơ sở GDNN, với doanh nghiệp; đổi mới, nâng cao tính tự chủ của cơ sở GDNN và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN.

Dưới đây là một số những nội dung chính của hệ thống GDNN theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

1. Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học (Hình 1).

– Giáo dục mầm non: Nhà trẻ và Mẫu giáo;

– Giáo dục phổ thông: Tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông;

– Giáo dục nghề nghiệp: Sơ cấp, trung cấp và cao đẳng;

– Giáo dục đại học: Đại học, thạc sỹ và tiến sỹ.

Hình 1. Hệ thống GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

2. Khung trình độ Quốc gia Việt Nam

Theo quy định của Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Khung trình độ quốc gia Việt Nam gồm có 8 bậc, trong đó có 5 bậc thuộc về các trình độ đào tạo của GDNN (Hình 2)

Hình 2. Các trình độ GDNN trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam

3. Các trình độ đào tạo của GDNN

GDNN có ba trình độ đào tạo: Sơ cấp, trung cấp và cao đẳng (Hình 1). Thời gian, văn bằng chứng chỉ đào tạo được mô tả như Bảng 1 dưới đây:

4. Lĩnh vực đào tạo của giáo dục nghề nghiệp

GDNN Việt Nam có sự đa dạng, phong phú nhất về các ngành nghề đào tạo, trong hệ thống giáo dục quốc dân. Với khoảng 825 nghề trình độ trung cấp, 559 nghề trình độ cao đẳng ở 21 lĩnh vực,  90 nhóm ngành nghề đào tạo, bao phủ mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, chưa kể đến hàng nghìn các nghề trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo ngắn hạn khác.

Ngoài lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ như máy tính, công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật; kiến trúc và xây dựng; sản xuất và chế biến; nông lâm nghiệp thủy sản; môi trường và bảo vệ môi trường…. còn nhiều lĩnh vực khác như giáo viên; văn hóa nghệ thuật; ngôn ngữ (tiếng Anh, Đức, Pháp, Nhật…); báo chí thông tin; kinh doanh và quản lý; pháp luật; sức khỏe (y tế); dịch vụ xã hội, dịch vụ vận tải; du lịch khách sạn; an ninh quốc phòng.v.v….

5. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Cơ sở GDNN bao gồm: Trung tâm GDNN, trường trung cấp và trường cao đẳng để đào tạo các trình độ của GDNN (Hình 3)

Hình 3. Chức năng của các cơ sở GDNN

6. Loại hình cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Các cơ sở GDNN được hình thành ở 3 loại hình (Hình 4):

Hình 4. Đặc điểm các loại hình cơ sở GDNN

7. Hình thức đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp

GDNN được thực hiện theo 2 hình thức: Đào tạo chính quy và Đào tạo thường xuyên (Hình 5)

Hình 5. Đặc điểm của đào tạo chính quy và thường xuyên

8. Chương trình và tổ chức đào tạo

Trước đây theo quy định của Luật Dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành chương trình khung đối với từng nghề đào tạo trình độ trung cấp và cao đẳng. Trên cơ sở chương trình khung, các cơ sở dạy nghề ban hành chương trình dạy nghề chi tiết.

Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, Nhà nước không ban hành chương trình khung mà giao cho các cơ sở GDNN tự chủ xây dựng chương trình đào tạo dựa theo Chuẩn đầu ra của từng nghề do nhà nước ban hành.

Trong tổ chức quản lý đào tạo, ngoài đào tạo theo niên chế (truyền thống) sẽ có thêm 2 phương thức đào tạo mới: Đào tạo theo tích lũy mô đunđào tạo theo tích lũy tín chỉ. Các cơ sở GDNN có quyền lựa chọn phương thức đào tạo theo điều kiện của từng cơ sở.

Theo phương thức đào tạo này, hệ thống GDNN sẽ là hệ thống mở, linh hoạt, đảm bảo liên thông thuận lợi giữa các cấp trình độ đào tạo trong cùng nghề hoặc với các nghề khác hoặc liên thông lên trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân; người học được coi là trung tâm của quá trình đào tạo, được học theo năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, có thể học nhiều nội dung trong cùng thời gian và được công nhận theo hình thức tích lũy các năng lực; người học có thể học rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân người học.

9. Một số chính sách của nhà nước đối với GDNN

* Chính sách với người học

– Chính sách miễn học phí: Người học được miễn học phí nếu thuộc các đối tượng sau:

+ Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa;

+ Người tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) học tiếp lên trình độ trung cấp;

+ Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu; người học các ngành, nghề chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

– Chính sách hỗ trợ: Người học được hỗ trợ của nhà nước nếu thuộc các đối tượng sau:

+ Người học là phụ nữ, lao động nông thôn khi tham gia các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 03 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo theo quy định;

+ Học sinh tốt nghiệp trường THCS dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông (THPT) dân tộc nội trú, nội trú dân nuôi được tuyển thẳng vào học trường trung cấp, cao đẳng công lập;

+ Người học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật; người học là người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc là người khuyết tật, có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo; học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khi tham gia chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng được hưởng chính sách nội trú theo quy định.

– Chính sách sử dụng, tôn vinh

+ Người học sau tốt nghiệp được tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang theo quy định; ưu tiên đối với những người có bằng tốt nghiệp loại giỏi trở lên;

+ Được hưởng tiền lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động dựa trên vị trí việc làm, năng lực, hiệu quả làm việc nhưng không được thấp hơn mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu hoặc mức lương khởi điểm đối với công việc hoặc chức danh có yêu cầu trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng theo quy định của pháp luật.

+ Người học tốt nghiệp trình độ cao đẳng, được cấp bằng cao đẳng và công nhận danh hiệu: Cử nhân thực hành hoặc kỹ sư thực hành.

– Chính sách khác đối với người học

+ Trong quá trình học tập nếu người học đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc do ốm đau, tai nạn, thai sản không đủ sức khỏe hoặc gia đình có khó khăn không thể tiếp tục học tập hoặc đi làm thì được bảo lưu kết quả học tập và được trở lại tiếp tục học tập để hoàn thành khóa học. Thời gian được bảo lưu 05 năm;

+ Những kiến thức, kỹ năng mà người học tích lũy được trong quá trình làm việc và kết quả học tập đã tích lũy được trong quá trình học tập ở các trình độ được công nhận và không phải học lại khi tham gia học các chương trình đào tạo khác.

+ Nhà nước có chính sách đào tạo nghề nghiệp cho người lao động để đưa đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài. Trường hợp người đang học tập tại cơ sở GDNN mà đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài thì được bảo lưu kết quả học tập. Thời gian được bảo lưu 05 năm.

+ Người đạt giải trong các kỳ thi tay nghề quốc gia, thi tay nghề khu vực ASEAN hoặc thi tay nghề quốc tế được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

+ Người đạt một trong các giải nhất, nhì, ba tại các kỳ thi tay nghề quốc gia có bằng tốt nghiệp trung cấp và có bằng tốt nghiệp THPT hoặc đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT theo quy định của pháp luật thì được tuyển thẳng vào trường cao đẳng để học ngành, nghề phù hợp với nghề đã đạt giải.

+ Người đạt một trong các giải nhất, nhì, ba tại các kỳ thi tay nghề khu vực ASEAN và thi tay nghề quốc tế, nếu có bằng tốt nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp, đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT theo quy định của pháp luật thì được tuyển thẳng vào trường đại học để học ngành, nghề phù hợp với nghề đã đạt giải.

* Chính sách đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, cơ sở GDNN có thêm một số chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước như:

– Được ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật về thuế; miễn thuế đối với phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực GDNN để lại để đầu tư phát triển;

– Miễn, giảm thuế theo quy định đối với lợi nhuận thu được từ sản phẩm, dịch vụ được tạo ra từ hoạt động đào tạo; ưu đãi về thuế đối với việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phù hợp với hoạt động đào tạo, xuất bản giáo trình, tài liệu dạy học, sản xuất và cung ứng thiết bị đào tạo, nhập khẩu sách, báo, tài liệu, thiết bị đào tạo.

Các cơ sở GDNN không phân biệt công lập hay tư thục, được tham gia đấu thầu, nhận đặt hàng đào tạo của Nhà nước theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; được vay vốn ưu đãi từ các chương trình, dự án trong nước và nước ngoài; được tham gia chương trình bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý GDNN trong nước và nước ngoài bằng kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, các cơ sở GDNN được nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm như: Cơ sở GDNN có sử dụng ngân sách nhà nước được quyền quyết định việc huy động vốn, sử dụng vốn, tài sản gắn với nhiệm vụ được giao để mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo; tự chủ, tự chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng tài sản hình thành từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước. Cơ sở GDNN có vốn đầu tư nước ngoài được tự chủ về cơ cấu tổ chức bộ máy. Cơ sở GDNN công lập tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện; được tuyển dụng, sử dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên, tự quyết định số người làm việc và quyết đinh trả lương theo hiệu quả, chất lượng công việc.

* Chính sách với doanh nghiệp khi tham gia hoạt động GDNN

Doanh nghiệp tham gia hoạt động GDNN với vai trò là chủ thể có quyền và trách nhiệm như nhau trong hoạt động GDNN.

Doanh nghiệp được thành lập cơ sở GDNN; được tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên; được tham gia vào hội đồng trường cao đẳng, trường trung cấp công lập, hội đồng quản trị trường cao đẳng, trường trung cấp tư thục; được tham gia xây dựng danh mục ngành, nghề đào tạo; xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập, đánh giá kết quả học tập của người học tại các cơ sở GDNN; được phối hợp với các cơ sở hoạt động GDNN để tổ chức đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo thường xuyên; được thực hiện đào tạo theo đặt hàng của cơ sở GDNN, đặt hàng của Nhà nước…. và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với toàn bộ chi phí cho hoạt động GDNN.

10. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp

Trước đây, theo Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Dạy nghề, cơ quan quản lý nhà nước về GDNN thuộc về 2 Bộ: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và các trung tâm dạy nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng.
Năm 2017, theo phân công của Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được giao quản lý thống nhất về GDNN trừ lĩnh vực sư phạm.
Năm 2019, thể chế hóa sự phân công của Chính phủ, Luật Giáo dục (sửa đổi) đã quy định: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, trừ lĩnh vực sư phạm (trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm).
Theo đó, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp là tổ chức thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp (trừ sư phạm) trong phạm vi cả nước; quản lý, thực hiện các dịch vụ công về giáo dục nghề nghiệp thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

VỤ ĐÀO TẠO CHÍNH QUY